Hiểu rõ các xét nghiệm chẩn đoán sốt rét
Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét theo quyết định số 3377/QĐ-BYT của Bộ Y tế ký ngày 30 tháng 8 năm 2023, định nghĩa chẩn đoán bệnh sốt rét bao gồm:
Trường hợp nghi ngờ sốt rét: là những trường hợp có (1) sốt (đang sốt hoặc tiền sử sốt trong 3 ngày gần đây) và (2) yếu tố dịch tễ (đến vùng sốt rét, đang ở hoặc trở về từ vùng sốt rét lưu hành hoặc có tiền sử mắc sốt rét). Tất cả các trường hợp nghi ngờ sốt rét đều phải làm xét nghiệm để phát hiện ký sinh trùng sốt rét. Nếu lần đầu xét nghiệm soi lam âm tính, mà vẫn còn nghi ngờ người đó bị sốt rét, thì phải xét nghiệm lại lam máu sau 8-24 giờ tốt nhất vào thời điểm người bệnh đang lên cơn sốt.
Trường hợp bệnh sốt rét xác định: là trường hợp có KSTSR trong máu được xác định bằng xét nghiệm lam máu nhuộm Giemsa (tiêu chuẩn vàng), hoặc xét nghiệm chẩn đoán nhanh phát hiện kháng nguyên, hoặc kỹ thuật sinh học phân tử.
Sốt rét thể thông thường (chưa biến chứng): là trường hợp mắc sốt rét xác định, không có dấu hiệu đe dọa tính mạng người bệnh, có thể có triệu chứng lâm sàng hoặc không.
Sốt rét ác tính (biến chứng): là trường hợp sốt rét có biến chứng đe dọa tính mạng người bệnh. Sốt rét ác tính thường xảy ra trên những người bệnh nhiễm P. falciparum hoặc nhiễm phối hợp có P. falciparum. Các trường hợp nhiễm các loài KSTSR khác cũng có thể gây sốt rét ác tính.
3. Xét nghiệm chẩn đoán nhanh phát hiện kháng nguyên (RDTs)
Kể từ năm 2012, TCYTTG khuyến cáo việc lựa chọn RDTs nên dựa vào một số tiêu chuẩn
- RDTs chẩn đoán P. falciparum hoặc P. vivax phát hiện được ít nhất 75% trường hợp ở mật độ 200 KSTSR/µL.
- Tỷ lệ dương tính giả dưới <10%.
- Tỷ lệ cho kết quả không hợp lệ dưới <5%.
Về cơ chế, các xét nghiệm chẩn đoán nhanh sốt rét hiện nay dựa trên cơ chế phát hiện các kháng nguyên đặc hiệu (proteins) tổng hợp bởi KSTSR trong máu. Các kháng nguyên này bao gồm protein giàu histidin-2 (HRP2, histidine-rich protein-2), lactate dehydrogenase (LDH) và aldolase
PfHRPs. Có ba loại PfHRPs được xác định bao gồm PfHRP1, PfHRP2 và PfHRP3
LDH là một enzyme cần thiết để sản xuất năng lượng và là enzyme cuối cùng trong con đường glycolysis của ký sinh trùng. Nó tan trong nước và được sản xuất bởi KSTSR ở cả giai đoạn vô tính và các giao bào
Aldolase là một enzyme glycolytic được tìm thấy trong nhiều mô của vật chủ và trong ký sinh trùng sốt rét, xúc tác quá trình hình thành dihydroxyacetone phosphate và glyceraldehyde-3 phosphate từ fructose 1,6-bisphosphate. Aldolase có ở tất cả các loài KSTSR.
Đặc điểm các xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDTs) theo kháng nguyên
Đặc điểm | HRP2 | pLDH | Aldolase |
Phát hiện loài KSTSR | Chỉ P. falciparum | P. falciparum, P. vivax, P. ovale, P. malariae | P. falciparum, P. vivax |
Duy trì kết quả dương tính sau khi sạch KST | > 28 ngày | < 10 ngày | < 10 ngày |
Biến dị di truyền | Có | Chưa | Chưa |
Độ nhạy cho P. falciparum | 95% | 93,2% | 48 – 80% |
Độ nhạy cho P. vivax (%) ở mật độ 2000 KSTSR/µL máu | - | 78,9 – 98,8% | 15 – 83% |
Độ đặc hiệu | 95,2% | 98,5% | * |
Đánh giá diễn tiến làm sạch KST | Không | Có | Tiềm năng |
Đánh giá hiệu lực thuốc | Không | Có | Tiềm năng |
Hiệu ứng prozone | Có | Không | Không |
Giá trị dự báo SRAT | Tiềm năng | * | * |
Chẩn đoán SRAT | Tiềm năng | * | * |
* Chưa có dữ liệu | |||
2. Xét nghiệm lam máu dưới kính hiển vi
Xét nghiệm lam máu giọt dày và giọt mỏng nhuộm giemsa và soi dưới kính hiển vi được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán sốt rét. Tuy nhiên, độ nhạy và đặc hiệu của xét nghiệm này phụ thuộc nhiều vào quy trình xét nghiệm và trình độ, kinh nghiệm của kỹ thuật viên. Mục tiêu của xét nghiệm lam máu dưới kính hiển vi bao gồm: phát hiện KSTSR, định danh loài KSTSR, và đếm mật độ KSTSR
Phát hiện KSTSR. Việc soi lam phát hiện KSTSR thông thường được thực hiện ở giọt dày. Một kỹ thuật viên soi lam kinh nghiệm có thể phát hiện ở độ nhạy khoảng 5-10 KSTSR/µL máu. Có thể kết luận lam máu là âm tính với KSTSR sau khi soi đủ một số lượng bạch cầu hoặc số lượng vi trường nhất định. Thông thường trên lâm sàng sử dụng ngưỡng 1000 bạch cầu hoặc 100 vi trường, với mỗi vi trường tốt có khoảng 15-20 bạch cầu
Định loài KSTSR. Việc xác định loài KSTSR có thể dựa vào một số đặc điểm của hồng cầu nhiễm, đặc điểm của nhân và nguyên sinh chất của KSTSR, và các hạt (Schuffner, Maurer) trong tế bào hồng cầu.
Đếm mật độ KSTSR. Ở Việt Nam, việc đếm mật độ KSTSR thường được thực hiện trên giọt dày, tuy nhiên việc này cũng có thể được thực hiện trên lam máu giọt mỏng. Mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng, do đó tuỳ vào quy định của từng chương trình hoặc nghiên cứu mà lựa chọn phương pháp đếm cho phù hợp. Thông thường, mật độ KSTSR đếm trên giọt dày được thực hiện khi mật độ <~16.000 KSTSR/μLvà mật độ KSTSR đếm trên giọt mỏng được thực hiện khi mật độ >~ 16.000 KSTSR/μL. Có thể ước lượng bằng cách
- Đếm số lượng KSTSR và bạch cầu trên 10 vi trường giọt dày;
- Nếu số lượng KSTSR thể vô tính > 2 lần số bạch cầu, đếm mật độ KSTSR trên giọt mỏng;
- Nếu số lượng KSTSR thể vô tính ≤ 2 lần số bạch cầu, đếm mật độ KSTSR trên giọt dày.
Giọt dày. Mật độ KSTSR đếm trên giọt dày được tính toán dựa trên một số lượng bạch cầu nhất định. Chính xác nhất là khi bệnh nhân được xét nghiệm công thức máu để biết số lượng bạch cầu. Tuy nhiên, có thể sử dụng con số trung bình 8000 bạch cầu (được xem là khá chính xác) để tính toán mật độ KSTSR theo công thức:
Một số lưu ý
- Khi đếm được đến 200 bạch cầu, nếu số lượng KSTSR ≥ 100 thì ngưng đếm, ghi nhận số liệu và tính toán mật độ KSTSR. Nếu số lượng KSTSR đếm được ≤ 99, tiếp tục đếm đến 500 bạch cầu.
- Nếu mật độ KSTSR quá cao lên đến hàng trăm KSTSR trên một vi trường, có thể đếm đến 100 bạch cầu, hoặc khoảng 5 vi trường.
- Trong trường hợp đồng nhiễm nhiều loài KSTSR, thông thường các thể vô tính được đếm và ghi nhận kết quả chung với nhau. Ví dụ: P. falciparum + P. vivax = X μL.
Ngoài ra, có thể ghi nhận mật độ KSTSR một cách bán định lượng. Đây là phương pháp cũ và ít được sử dụng hiện nay vì có độ chính xác thấp hơn:
- + = 1 – 10 KSTSR/100 vi trường
- ++ = 11 – 100 KSTSR/ 100 vi trường
- +++ = 1 – 10 KSTSR/ 1 vi trường
- ++++ = > 10 KSTSR/ 1 vi trường
Giọt mỏng. Mật đọ KSTSR đếm trên giọt mỏng được được ghi nhận bằng số hồng cầu nhiễm KSTSR trên tổng số khoảng 2000 (>1900) hồng cầu đếm được. Nếu sau khi đếm 2000 hồng cầu không phát hiện hồng cầu nhiễm, chuyển sang lam máu giọt đặc để soi phát hiện KSTSR như mô tả phía trên.
3. Xét nghiệm sinh học phân tử
Với lợi điểm có độ đặc hiệu và độ nhạy cao (< 10 KSTSR/μL), các xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAATs) hiện nay đang được áp dụng trong việc phát hiện, định loài, và định lượng KSTSR; cũng như ứng dụng trong việc phát hiện các chỉ điểm phân tử liên quan đến kháng thuốc. Tuy nhiên, các xét nghiệm này chưa thay thế được các phương pháp xét nghiệm RDTs và xét nghiệm kính hiển vi bởi vì yêu cầu cao đối với vật tư trang thiết bị, kỹ thuật, và chưa có chuẩn hoá các quy trình
Nguyên tắc: Đoạn gene 18S rRNA thường được sử dụng làm DNA đích để phát hiện các loài Plasmodium bằng xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase (PCR)
- PCR truyền thống (conventional PCR): khuếch đại và phát hiện đoạn DNA.
- PCR sao chép ngược (RT-PCR, reverse transcriptase PCR): sử dụng enzyme phiên giải ngược để chuyển mRNA thành DNA trước khi thực hiện PCR; do đó phát hiện RNA.
- PCR thời gian thực (qPCR, realtime PCR): cho phép theo dõi quá trình phản ứng chuỗi DNA theo thời gian thực (từng vòng phản ứng).
- PCR lồng ghép (nested PCR): hai phản ứng chuỗi khác nhau được thực hiện liên tiếp trên cùng một mẫu DNA với cặp mồi khác nhau cho từng phản ứng.
- PCR đa mồi (multiplex PCR): cho phép khuếch đại nhiều trình tự DNA chỉ trong một phản ứng PCR.
Các đoạn mồi và đoạn dò sử dụng xác định loài Plasmodium trên gene 18S rRNA
Loài KSTSR | Tênđoạn mồi hoặc đoạn dò | Trình tự đoạn mồi 5′–3′ | Fluorescent |
P. falciparum | Fal-F | CCGACTAGGTGTTGGATGAAAGTGTTAA | VIC-MGBNFQ |
Fal-R | AACCCAAAGACTTTGATTTCTCATAA | ||
Fal probe | AGCAATCTAAAAGTCACCTCGAAAGATGACT | ||
P. vivax | Viv-F | CCGACTAGGCTTTGGATGAAAGATTTTA | NED-MGBNFQ |
Viv-R | AACCCAAAGACTTTGATTTCTCATAA | ||
Viv probe | AGCAATCTAAGAATAAACTCCGAAGAGAAAATT | ||
P. malariae | Mal-F | CCGACTAGGTGTTGGATGATAGAGTAAA | FAM-MGBNFQ |
Mal-R | AACCCAAAGACTTTGATTTCTCATAA | ||
Mal probe | CTATCTAAAAGAAACACTCAT | ||
P. ovale | Ova-F | CCGACTAGGTTTTGGATGAAAGATTTTT | VIC-MGBNFQ |
Ova-R | AACCCAAAGACTTTGATTTCTCATAA | ||
Ova probe | CGAAAGGAATTTTCTTATT | ||
P. knowlesi | Knw-F | CTAAAATGCGCACAAAGTCGAT | NED-MGBNFQ |
Knw-R | GCAGTTAAAACGCTCGTAGTTGAA | ||
Knw probe-1 | CGGAGGCATCAGTTAT | ||
Plasmodiumspp. | Spp-F | AGCTCTTTCTTGATTTCTTGG | VIC-MGBNFQ |
Spp-R | CAGACAAATCATATTCACGAACT | ||
Spp probe-1 | AAACGGCCATGCATCACCAT | ||
Human β2-megaglobulin | 2βMG-F | TGAGTATGCCTGCCGTGTGA | FAM-MGBNFQ |
2βMG-R | ACTCATACACAACTTTCAGCAGCTTAC | ||
2βMG probe | CCATGTGACTTTGTCACAGCCCAAGATAGTT |
Tổng hợp: ThS.BS. Châu Văn Khánh
Nhận xét
Đăng nhận xét